30/09/2021 18:46
Xem với cỡ chữ

Nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT từ kinh nghiệm thực tế

Võ Thanh Phong Chi nhánh NHPT KV Cần Thơ (Bài đạt Giải Khuyến khích Cuộc thi viết về 15 năm Thành lập NHPT - Bài viết được biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) được thành lập theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ. trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển và chính thức thức đi vào hoạt động từ ngày 01/07/2006. 
Trải qua 15 năm thành lập, NHPT đã cho vay nhiều dự án lớn, trọng điểm, hoạt động hiệu quả, đã hỗ trợ nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc những lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển vươn lên, khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và thế giới. Qua đó NHPT đã gián tiếp tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bình ổn cán cân thương mại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khẳng định NHPT là một công cụ tài chính đắc lực của Chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế trong từng thời kỳ. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động của NHPT trong 15 năm qua cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức và đến nay vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần có giải pháp để hoàn thiện. 
Với góc độ là một cán bộ nghiệp vụ từng làm vị trí tín dụng, kiểm tra, thẩm định và đã tích lũy hơn 18 năm kinh nghiệm, với tâm huyết, mong muốn NHPT phát triển ngày càng bền vững hơn, tác giả xin đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT nhìn từ bài học kinh nghiệm thực tiễn, như sau:
Giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với dự nợ bình quân trên số lượng người lao động tại từng đơn vị 
Trong thời gian qua, NHPT giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng chủ yếu dựa vào mức dư nợ hiện tại, kế hoạch thu nợ trong năm và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hằng năm là x% cho toàn bộ các Sở giao dịch, Chi nhánh (gọi chung là đơn vị) trong toàn hệ thống. Việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng như thời gian qua chưa tạo nhiều động lực để các đơn vị phấn đấu và chưa mang lại hiệu quả tối ưu cho toàn hệ thống. Bởi một số đơn vị có số lượng người lao động nhiều nhưng mức dư nợ bình quân tính theo đầu người rất thấp so với bình quân chung của toàn hệ thống, ngược lại một số đơn vị có số lượng người lao động ít nhưng mức dư nợ bình quân tính theo đầu người cao. Do đó, có tình trạng một số đơn vị có khối lượng công việc phát sinh ít, số người lao động bị dôi dư nhiều, một số đơn vị có khối lượng công việc phát sinh quá nhiều và thiếu người lao động… dẫn đến hiệu quả, năng suất lao động tính bình quân theo đầu người giữa các đơn vị có sự chênh lệch khá lớn nên hiệu quả hoạt động của hệ thống chưa được tối ưu. 
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ NHPT lần III, nhiệm kỳ 2020 - 2025, trong năm 2021, số người lao động NHPT dự kiến giảm khoảng 350 - 500 người so với số lao động tại thời điểm 31/12/2018 nên việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với dự nợ bình quân trên số lượng người lao động tại từng đơn vị sẽ tạo nhiều động lực cho các đơn vị phấn đấu tìm kiếm khách hàng để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Trường hợp không đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng như kế hoạch, buộc các đơn vị phải tự thực hiện chính sách tinh giảm số lao động hiện có để đạt mức dư nợ bình quân chung, khi đó hiệu quả, năng suất lao động của NHPT sẽ được tối ưu.
Cần xác định ưu thế của NHPT so với các NHTM để có chính sách tín dụng phù hợp 
Trước đây ưu thế của NHPT so với các NHTM chủ yếu là lãi suất cho vay ưu đãi, cố định, tỷ lệ tài sản đảm bảo thấp…. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chính sách về lãi suất cho vay của NHPT không có sự chênh lệch nhiều so với các NHTM, thậm chí ở một số thời điểm lãi suất cho vay của NHPT cao hơn một số NHTM. Trong khi đó, tỷ lệ tài sản đảm bảo thấp trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế trong việc thu hồi, xử lý nợ, thậm chí một số dự án, khoản vay đã bị mất vốn, một số cán bộ đã bị xử lý trách nhiệm cá nhân nên quan điểm của hầu hết cán bộ nghiệp vụ tại các đơn vị trong toàn hệ thống hiện nay là khách hàng phải có thêm tài sản đảm bảo khác ngoài tài sản hình thành từ vốn vay với tỷ lệ càng cao càng tốt. 
Xét về tổng thể, ưu thế của NHPT so với các NHTM hiện nay không còn nhiều hấp dẫn như trước đây, trong khi đó các thủ tục hồ sơ vay vốn tại NHPT vẫn phức tạp hơn các NHTM, phải tuân thủ về trình tự thủ tục xây dựng cơ bản, Luật Đấu thầu …. như các doanh nghiệp Nhà nước sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển, NHPT cần xác định lại ưu thế của mình so với các NHTM để trình các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, ban hành chính sách tín dụng có sự hấp dẫn hơn một số NHTM và từng bước hoàn thiện chính sách khách hàng phù hợp với tình hình thực tiễn và những ưu thế hiện có. Trước hết là từng cán bộ trong hệ thống NHPT phải chủ động tìm khách hàng và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
 Điều kiện cho vay phải có sự khác biệt lớn giữa khách hàng có tình hình hoạt động sản xuất ổn định nhiều năm và khách hàng là doanh nghiệp mới thành lập
Trong thời gian qua, việc tìm kiếm, lựa chọn khách hàng cho vay tại các đơn vị được dựa theo những tiêu chuẩn chung nhất và điều kiện về cho vay giữa từng nhóm, đối tượng khách hàng chưa có sự khác biệt lớn. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các dự án bị các rủi ro như: dự án bị dở dang, chưa thể hoàn thành và đưa vào sử dụng như kế hoạch, dự án bị tạm dừng hoặc dừng hoạt động, sản phẩm của dự án không được thị trường chấp nhận...  chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc nhóm khách hàng là các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp, bộ máy tổ chức hoạt động chưa ổn định, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm chưa có, đặc biệt là chưa xác định uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, khả năng huy động thêm nguồn vốn bị hạn chế... 
Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, NHPT nên ưu tiên xem xét và cho vay đối với các khách hàng là các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu từ 2 năm trở lên, sản phẩm đầu ra của dự án đã có mạng lưới tiêu thụ ổn định…. Đối với các trường hợp khác, điều kiện cho vay phải có sự khác biệt lớn khi thẩm định cho vay, đặc biệt là trường hợp là doanh nghiệp mới thành lập như mức vốn cho vay tối đa phải thấp hơn mức quy định chung, việc chứng minh nguồn vốn tham gia dự án phải có tính khả thi cao, phải có tài sản đảm bảo khác (ngoài tài sản hình thành từ vốn vay), tỷ lệ tài sản đảm bảo phải cao hơn mức bình quân chung….
Giải ngân phải được bộ phận kiểm tra độc lập thuộc Hội sở chính rà soát, kiểm tra trước khi thực hiện
  Việc rà soát, kiểm tra trước, trong và sau giải ngân là quy trình bắt buộc của các ngân hàng nói chung. Riêng đối với NHPT, hoạt động kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi giải ngân trong 15 năm qua rất được quan tâm, chú trọng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc kiểm tra, giám sát trước khi giải ngân chủ yếu do Phòng Kiểm tra trực thuộc tại các đơn vị rà soát, kiểm tra chưa phát huy hiệu quả tối ưu bởi nhiều lý do khác nhau như sự nể nang, hạn chế về kiến thức chuyên sâu….
Thực tiễn đã chứng minh, nhiều dự án, khoản vay khi đoàn kiểm tra độc lập thuộc Hội sở chính tiến hành rà soát, kiểm tra và phát hiện nhiều vấn đề có thể khắc phục ngay trước khi giải ngân nhưng do việc kiểm tra được thực hiện sau khi giải ngân, đặc biệt các dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều năm nên khó có thể khắc phục. Điều này có thể tiềm ẩn rủi ro nếu dự án không thu hồi đươc nợ. Thực tế cho thấy việc giải ngân từng lần tại NHPT có số tiền rất lớn, vài trăm triệu đến vài trăm tỷ đồng, trong khi đó chi phí in, phô tô tài liệu… rất nhỏ so với vốn vay nên việc có thêm 1 bộ hồ sơ để gửi bộ phận kiểm tra độc lập thuộc Hội sở chính tiến hành rà soát, kiểm tra song hành với các đơn vị trước khi giải ngân là hoàn toàn có thể thực hiện được. 
Ngoài ra, các dự án vay vốn tại NHPT có thời gian vay vốn khá dài (từ 5 đến 20 năm) và hầu như các hồ sơ dự án thường xuyên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền theo định kỳ hoặc đột xuất nên việc có thêm bộ hồ sơ thứ hai vừa có thể phục vụ kiểm tra nội bộ, vừa có thể phục vụ các đoàn kiểm tra bên ngoài và góp phần hạn việc thất lạc hồ sơ. Do đó, để kịp thời khắc phục các sai sót và hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra, NHPT cần quy định từng lần giải ngân phải được bộ phận kiểm tra độc lập thuộc Hội sở chính rà soát, kiểm tra trước khi giải ngân.
Cần ràng buộc khách hàng được vay vốn phải ký hợp đồng với đơn vị kiểm toán độc lập để hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành, xác lập quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay theo quy định của pháp luật ngay khi ký hợp đồng tín dụng
 Theo quy định của Chính phủ, một trong những điều kiện để được vay vốn tại NHPT là khách hàng phải thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định. Qua thực tế cho thấy, đối với các doanh nghiệp có vốn Nhà nước, việc thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định rất tốt. Nhưng đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vừa, không phải là doanh nghiệp Nhà nước, việc thực hiện các trình tự thủ tục đầu tư theo quy định là rất hạn chế, trong quá trình thực hiện dự án thường phát sinh một số tồn tại, hạn chế về hồ sơ, trình tự, thủ tục…là khó tránh khỏi.
 Trong thời gian qua đã có không ít trường hợp khách hàng thực hiện các thủ tục đầu tư chưa đúng trong từng lần giải ngân, đặc biệt là sau khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, khách hàng không hoàn thành quyết toán công trình, không hoàn thành thủ tục liên quan xác lập quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận với NHPT. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do khách hàng chưa hiểu đúng về các thủ tục theo quy định, một số khách hàng e ngại về chi phí nên không thực hiện,… Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của NHPT khi khách hàng không trả được nợ vay và buộc phải xử lý tài sản đảm bảo. 
Để có thể hỗ trợ và nâng cao ý thức khách hàng trong việc thực hiện các thủ tục, hồ sơ đúng theo quy định pháp luật, khi thông báo cho vay, NHPT cần ràng buộc khách hàng được vay vốn phải ký hợp đồng với đơn vị kiểm toán độc lập để hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành, xác lập quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay theo quy định của pháp luật ngay khi ký hợp đồng tín dụng. Đặc biệt, trong từng lần giải ngân thanh toán khối lượng hoàn thành nếu có thể ràng buộc đơn vị kiểm toán xác nhận khối lượng hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định, NHPT sẽ hạn chế các rủi ro có thể xảy ra.
Giải quyết hài hòa giữa chính sách tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay - tăng trưởng tín dụng - rủi ro tín dụng - trách nhiệm cá nhân và cơ chế tiền lương
 Trong hoạt động tín dụng của NHPT cũng như các NHTM, mối quan hệ giữa tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay - tăng trưởng tín dụng - rủi ro - trách nhiệm cá nhân và cơ chế tiền lương có mối liên hệ chặt với nhau. Thực tế hoạt động của NHPT trong 15 năm qua đã khẳng định, nếu tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay càng cao, tăng trưởng tín dụng và rủi ro sẽ càng thấp. Ngược lại, nếu tỷ lệ tài sản đảm bảo càng thấp, tăng trưởng tín dụng và rủi ro sẽ cao. Khi một dự án, khoản vay bị rủi ro, không thể thu hồi được nguồn vốn cho vay, tất cả các bộ nghiệp vụ có liên quan đến dự án, khoản vay đều có thể bị xem xét, xử lý trách nhiệm cá nhân. Việc xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật là hợp lý. 
Tuy nhiên, cơ chế tiền lương của những cán bộ làm nghiệp vụ ở ví trí có tiềm ẩn nhiều rủi ro không có sự khác biệt với cán bộ nghiệp vụ làm ở vị trí ít rủi ro hơn. Do đó, một số cán bộ hiện nay rất e ngại khi làm nghiệp vụ ở ví trí có tiềm ẩn nhiều rủi ro (thẩm định, tín dụng..), thậm chí một số cán bộ không dám, không muốn làm hoặc làm ở vị trí tiềm ẩn rủi ro nhưng có quan điểm khách hàng phải có tài sản đảm bảo rất cao, tối thiểu là 100% vốn vay (không bao gồm tài sản hình thành sau đầu tư)...
 Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, NHPT cần phải giải quyết hài hòa chính sách tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay - tăng trưởng tín dung - rủi ro tín dụng - trách nhiệm cá nhân - cơ chế tiền lương. Trước hết cơ chế tiền lương phải hoàn thiện theo hướng phải có sự khác biệt giữa cán bộ làm nghiệp vụ ở ví trí có tiềm ẩn nhiều rủi ro với cán bộ nghiệp vụ làm vị trí ít rủi ro và trên cơ sở đó phải có cơ chế quản trị tốt các rủi ro để cán bộ có thể an tâm, công tác lâu dài.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và hoàn thiện một số văn bản hướng dẫn của NHPT
 Hoạt động của NHPT còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc lớn, có liên quan đến cơ quan thẩm quyền là lãi suất tín dụng đầu tư và quy chế xử lý rủi ro chưa thể ban hành. Để có thể đi vào hoạt động ổn định, hiệu quả sau khi thực hiện Đề án tái cơ cấu, NHPT cần tiếp tục kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về lãi suất cho vay và quy chế xử lý rủi ro. Ngoài ra, NHPT cần sớm hoàn thiện một số văn bản hướng dẫn nội bộ của NHPT như:
 Về bảo đảm tiền vay: 
Theo khoản 2, Điều 14, Quyết định số 146/QĐ ngày 15/05/2017 của NHPT về việc ban hành Quy chế cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước quy định “Người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho vay theo phân cấp sẽ đồng thời là người quyết định về biện pháp bảo đảm tiền vay, tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay so với số vốn vay của từng khoản vay dự án cụ thể, đảm bảo an toàn vốn vay”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, NHPT vẫn chưa phân cấp cho vay nên các đơn vị chưa có cơ sở để trả lời cụ thể, chính xác với khách hàng về biện pháp bảo đảm tiền vay, tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay. 
Để các đơn vị có thể chủ động trong việc yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo, góp phần thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng tín dụng, NHPT sớm có văn bản phân cấp cho vay hoặc có văn bản hướng dẫn trong việc thực hiện tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay đối với từng nhóm khách hàng.
 Về việc báo cáo Tổng Giám đốc xem xét quyết định việc tiếp nhận hồ sơ vay vốn:
Theo quy định tại Công văn số 1841/NHPT-TĐ ngày 01/08/2017 về việc tiếp nhận hồ sơ vay vốn TDĐT của Nhà nước, các dự án thuộc loại hình, lĩnh vực mà NHPT chưa từng vay, Giám đốc Chi nhánh phải báo cáo Tổng Giám đốc xem xét quyết định việc tiếp nhận hồ sơ vay vốn. Trên thực tế, hầu như các đơn vị trong hệ thống chưa thể biết danh mục loại hình, lĩnh vực nào NHPT chưa từng cho vay nên không chủ động trong việc tiếp xúc khách hàng và quyết định tiếp nhận hồ sơ vay vốn. 
Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc này, định kỳ hằng năm, hàng quý, NHPT cần rà soát và cung cấp cho các đơn vị danh mục các đối tượng ưu tiên xem xét, cho vay và không cần phải xin chủ trương tiếp nhận hồ sơ để việc tiếp nhận, thẩm định hồ sơ được nhanh chóng, hiệu quả hơn.
Về việc xác định vốn tự có tham gia dự án:
Theo Công văn số 1771/NHPT-TĐ ngày 24/07/2017 về việc Hướng dẫn công tác thẩm định, NHPT hướng dẫn việc xác định vốn chủ sở hữu có khả năng tham gia vào dự án. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp khách hàng được xác định vốn tự có theo công thức hướng dẫn của NHPT (Vốn lưu động thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn - Tài sản dài hạn), vốn tự có đủ đảm bảo để thực hiện dự án nhưng khi triển khai dự án có nhiều trường hợp khách hàng không đảm bảo đủ vốn tự có tham gia dự án vì nguồn vốn chủ sở hữu có nhiều biến động, giảm mạnh so với thời điểm thẩm định với nhiều lý do khác nhau. Ngoài ra, trong thực tế có nhiều trường hợp việc xác định vốn tự có theo công thức hướng dẫn của NHPT, khách hàng không đảm bảo đủ vốn tự có tham gia dự án tại thời điểm thẩm định, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thành lập, chưa góp đủ, đúng vốn điều lệ theo quy định nhưng khách hàng cam kết sẽ bổ sung đủ vốn chủ sở hữu tham gia dự án khi NHPT chấp thuận cho vay thông qua hình thức như văn bản cam kết góp vốn hoặc Nghị quyết góp vốn. Do đó, NHPT cần sớm hoàn thiện văn bản hướng dẫn về các vướng mắc trong việc xác định vốn tự có nêu trên để việc thẩm định dự án được chất lượng hơn.
Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thẩm định
 Trải qua 15 hình thành và phát triển, các quy chế, quy trình nghiệp vụ của NHPT thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tiễn và các quy định pháp luật có liên quan. Đồng thời, NHPT cũng rất chú trọng việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, NHPT vẫn chưa có phần mềm ứng dụng trong việc tính toán các chỉ tiêu tài chính dựa theo báo cáo tài chính như các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động, khả năng sinh lời… và chưa có phần mềm ứng dụng trong việc tính toán các chỉ tiêu chủ yếu về hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án (NPV, IRR, B/C; thời gian hoàn vốn có chiết khấu). 
Để tính toán các chỉ tiêu tài chính và hiệu quả dự án theo quy trình thẩm định, từng cán bộ hoặc từng nghiệp vụ tại từng đơn vị sẽ có phương pháp tính toán riêng. Việc tính toán này chủ yếu là xây dựng công thức tính toán trên fille excell và chưa có sự kiểm duyệt, đánh giá của NHPT và thống nhất chung giữa các đơn vị trong toàn hệ thống nên mức độ chuẩn xác, hiệu quả chưa thực sự tối ưu. Do đó, để đảm bảo việc thẩm định được nhanh, chuẩn xác, hiệu quả và thống nhất chung trong toàn hệ thống, NHPT cần tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thẩm định, đặc biệt là cần sớm xây dựng phần mềm ứng dụng để tính toán các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả dự án.
Cần sớm triển khai lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ trong toàn hệ thống 
Trải qua 15 năm hình thành và phát triển, hoạt động nghiệp vụ của NHPT có nhiều thay đổi, đặc biệt là kể từ khi Nghị định số 32-2017/NĐ-CP ngày 31/03/2017 của Chính phủ về chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được ban hành (Nghị định 32), đã xóa bỏ các nghiệp vụ như tín dụng xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, cấp phát ủy thác… nên một số cán bộ ở bộ phận nghiệp vụ bị xóa bỏ sẽ chuyển sang làm nghiệp vụ tín dụng hoặc thẩm định. Ngoài ra, trong thời gian gần đây NHPT đã từng bước sắp xếp, tổ chức lại bộ máy theo đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu đã được Chính phủ phê duyệt nên vị trí việc làm của rất nhiều cán bộ nghiệp vụ tiếp tục được sắp xếp lại để phù hợp với tình hình mới. 
Khó khăn, vướng mắc lớn nhất khi cán bộ làm nghiệp vụ khác chuyển sang nghiệp vụ thẩm định hoặc tín dụng là phải cập nhật đầy đủ và nắm vững về kiến thức quản lý đầu tư xây dựng, kiến thức về đấu thầu... Tuy nhiên, phần lớn cán bộ làm nghiệp vụ tín dụng, thẩm định tại các đơn vị chủ yếu học từ các ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng... nên việc tự nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng, đấu thầu là không đơn giản, đặc biệt là khi các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực này thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế. 
Bên cạnh việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức, trong thời gian qua NHPT đã ban hành rất nhiều văn bản nghiệp vụ mới để bổ sung hoặc thay thế các văn bản trước đây. Trong khi đó việc thực hiện nghiệp vụ thẩm định và giải ngân tại một số đơn vị trong hệ thống có thể bị gián đoạn từ 2017 đến nay nên một số cán bộ chưa thể tích lũy nhiều kinh nghiệm, cập nhật đầy đủ các văn bản pháp lý có liên quan đến nghiệp vụ thẩm định, tín dụng... Do đó, để có thể đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng với chất lượng, hiệu quả ngay sau khi các cơ chế, chính sách cho vay được tháo gỡ, NHPT cần sớm triển khai lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ trong toàn hệ thống để cán bộ nghiệp vụ có thể cập nhật đầy đủ các văn bản pháp lý có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Nâng cao ý thức về trách nhiệm cá nhân của cán bộ nghiệp vụ khi tham gia vào quá trình cho vay (thẩm định, giải ngân, thu nợ…)
 Thời gian mới thành lập, hoạt động nghiệp vụ của NHPT rất đa dạng: tín dụng xuất khẩu, tín dụng đầu tư, ODA, cấp phát hủy thác, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư… và cán bộ nghiệp vụ chủ yếu được kế thừa từ Quỹ hỗ trợ phát triển nên quan điểm, tư tưởng của cán bộ nghiệp vụ của NHPT còn mang nặng tư tưởng là đơn vị hỗ trợ hơn là đơn vị cho vay. Khi đó, ý thức trách nhiệm cá nhân của cán bộ nghiệp vụ khi tham gia vào quá trình cho vay là rất đơn giản, chỉ mong muốn được hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn có điều kiện tiếp cận được nguồn vốn Nhà nước để duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế của địa phương cũng như cả nước phát triển nên ít xem xét và ràng buộc khách hàng phải bổ sung tài sản đảm bảo ở mức cao nhất có thể để phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra. Còn đối với cán bộ nghiệp vụ làm ở các khâu giải ngân, kiểm tra… cũng có quan điểm rất đơn giản là chỉ thực hiện chủ yếu dựa vào các văn bản của NHPT và ít quan tâm đến các văn bản pháp luật có liên quan. Khi một dự án, khoản vay xảy ra rủi ro, bộ phận này cứ nghĩ là trách nhiệm thuộc bộ phận kia và ngược lại. Qua thực tế cho thấy, mỗi cán bộ tham gia vào quá trình cho vay đều có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau và có sự ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của NHPT. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động, NHPT phải thường xuyên tuyên truyền, nâng cao ý thức về trách nhiệm cá nhân của cán bộ nghiệp vụ ngay khi tham gia vào quá trình cho vay để cán bộ tại từng vị trí không có tư tưởng chủ quan, ỷ lại…, đặc biệt là không ngừng hoàn thiện việc xây dựng văn hóa quản trị rủi ro tại cơ sở.
Tóm lại, trải qua 15 năm hình thành và phát triển, hoạt động của NHPT đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Tuy nhiên, NHPT cũng như bất kỳ tổ chức tín dụng nào đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, cơ chế hoạt động sẽ không tránh khỏi phát sinh các trường hợp khó khăn, vướng mắc. Tin rằng, với một số giải pháp xuất phát từ bài học kinh nghiệm thực tiễn nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT và khẳng định NHPT tiếp tục là một công cụ tài chính đắc lực của Chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế từng thời kỳ./.
Tìm theo ngày :

Khách online:13364
Lượt truy cập: 12765475